Toàn quốc Xu ly suy gan toi cap

Rao vặt trong 'Quảng cáo tiếp thị' đăng bởi dtrigan1412, 24/8/17.

    1. Giao hàng:

      Toàn Quốc
    2. Tình trạng:

      Miễn phí
    3. Giá:

      1,000 VNĐ
    4. Liên hệ:

      01653163756  
    5. Địa chỉ:

      số 2 Trương Quốc Dung
    6. Thông tin:

      24/8/17, 0 Trả lời, 161 Xem
  1. dtrigan1412

    dtrigan1412 New Member

    Tham gia:
    6/8/17
    Bài viết:
    3
    Thích đã nhận:
    0
    I.Mở đầu

    Suy gan tối cấp (FHF) có thể xẩy ra bởi một số nguyên nhân; nguyên nhân chính xác thay đổi ở các vùng khác nhau của thế giới và trong nhiều trường hợp không bao giờ được xác định chính xác. Vì vậy, trong khi mọi nỗ lực cần được thực hiện để xác định một nguyên nhân đặc hiệu, sự tập trung xử lý hướng về việc xác định sớm và điều trị các biến chứng liên quan. Trong khi nhiều bệnh nhân có thể phục hồi với sự chăm sóc chuyên biệt, việc tái đánh giá thường xuyên là điều thiết yếu nhằm xác định các yếu tố dự đoán tiên lượng kém nếu không được ghép gan, phẫu thuật cứu mạng sống có thể được đưa ra một cách kịp thời.

    II.Kiểm tra chẩn đoán

    Viêm gan do virus vẫn là một nguyên nhân quan trọng gây suy gan tối cấp (FHF), mặc dù sự áp dụng rộng rãi việc tiêm chủng vắc-xin viêm gan B đã làm giảm số lượng bệnh nhân được quan sát thấy bị suy gan cấp do viêm gan B. Một số bệnh nhân bị nhiễm virus viêm gan B kéo dài có thể biểu hiện suy gan cấp, thường vào thời điểm chuyển đổi huyết thanh HBeAg hoặc do bội nhiễm virus viêm gan D hoặc các virus hướng gan khác. Viêm gan A là một nguyên nhân ít gặp của suy gan tối cấp ở người lớn, mặc dù các trường hợp trong đó một sự lây nhiễm nhẹ khác bị làm trầm trọng thêm bởi việc sử dụng đồng thởi acetaminophen không phải là ít gặp.

    Xét nghiệm chung:
    • Đếm máu toàn phần (CBC), INR, creatinin, glucose
    • Sinh hóa gan (bilirubin toàn phần/bilirubin trực tiếp, AST, ALT, phosphatase kiềm , albumin)
    • Lactat huyết thanh, amylase huyết thanh
    • Khí máu động mạch với pH
    • Siêu âm gan với đánh giá Doppler tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan
    • Chụp X-quang ngực, đo điện tâm đồ
    • Thử nghiệm mang thai
    • Sàng lọc độc tính đối với acetaminophen
    Xét nghiệm đặc hiệu:
    • Huyết thanh học virus
      • HAV-IgM , HBsAg , IgM anti-HBc , HCV-Ab
      • HIV (Virus gây suy giảm miễn dịch ở người), HBVDNA nếu nghi ngờ bị nhiễm virus viêm gan B, HDAg (PCR) (Kháng nguyên virus viêm gan D (virus Delta) (phản ứng chuỗi polymerase) và/hoặc HDV-IgM nếu có sự hiện diện của HBV
      • HSV-IgM , EBV-IgM , HEV-IgM, CMV-IgM hoặc PCR
    • Tự miễn
      • Kháng thể kháng nhân (ANA), kháng thể kháng cơ trơn (SMA), globulin miễn dịch định lượng
    • Chuyển hóa
      • Ceruloplasmin, đồng trong nước tiểu và khám bằng đèn khe đối với vòng Kayser-Fleischer
    Các xét nghiệm khác cần được xem xét:
    • Chụp CT não
    • Điện não đồ (EEG)
    • Sinh thiết gan qua tĩnh mạch cảnh

    ALP: phosphatase kiềm (alkaline phosphatase); ALT: alanine aminotransferase; ANA: Kháng thể kháng nhân; AST: aspartate aminotransferase; CBC: đếm huyết cầu toàn phần (complete blood count); EEG: Điện não đồ (electroencephalography); PCR: phản ứng chuỗi polymerase); SMA: kháng thể kháng cơ trơn (smooth muscle antibodies).

    Tham khảo thêm BÁC SĨ GAN


    III.Xử trí bệnh nhân

    A.Nguyên tắc chung: bệnh đa hệ thống

    1.Bệnh não gan

    Sự phát triển bệnh não gan là một dấu hiệu của suy gan tối cấp (FHF). Trái ngược với tình trạng bệnh gan mạn tính, trong đó bệnh não gan thường hiện diện với mức độ nặng thay đổi, biến chứng này đi kèm với một kết cuộc xấu trong bối cảnh tối cấp. Một sự gia tăng về áp lực nội sọ có thể xảy ra trong vài giờ sau khi khởi phát bệnh não trên lâm sàng và kết quả thoát vị cấu trúc thân não có thể dẫn đến tổn thương não không hồi phục, không thể được sửa chữa bằng ghép gan. Do đó, một khi bệnh não gan đã phát triển, ghép gan nên trở thành một sự xem xét tích cực và có thể áp dụng các mô hình khác nhau được xây dựng về tiên lượng.

    [​IMG]

    Bảng .3 Suy gan tối cấp: một bệnh đa hệ thống

    • Hệ thần kinh trung ương
      • Bệnh não gan
      • Tăng áp lực nội sọ
    • Thận
      • Hoại tử ống thận cấp
      • Hội chứng gan thận
    • Hô hấp
      • Viêm phổi sặc
      • Phù phổi
    • Tim mạch
      • Hạ huyết áp toàn thân
      • Nhịp tim nhanh, tăng động tuần hoàn
    • Huyết học
      • Bệnh đông máu
      • Đông máu rải rác trong lòng mạch
      • Thiếu máu bất sản
    • Tiêu hóa
      • Chảy máu đường tiêu hóa trên
      • Viêm tụy
    • Nội tiết
      • Hạ đường huyết
      • Suy thượng thận
    • Trường hợp khác
      • Nhiễm khuẩn và biến chứng của nó

    2.Rối loạn chức năng thận

    Rối loạn chức năng thận thường gặp với suy gan tiến triển, với hồ sơ gợi lại hội chứng gan thận như được quan sát thấy trong bệnh gan mạn tính. Việc tránh những độc tố hại thận tiềm năng bao gồm kháng sinh, thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) và thuốc cản quang là điều quan trọng, cùng với việc điều trị các nguyên nhân gây giảm tưới máu thận như nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, hạ huyết áp toàn thân thường gặp trong suy gan tối cấp và trong một nỗ lực để giảm thiểu việc truyền dịch, một ngưỡng thấp hơn về việc sử dụng thuốc tăng huyết áp được tán thành. Liệu pháp thay thận thường cần thiết đối với việc xử trí rối loạn acid-base nặng được quan sát thấy trong suy gan cấp tính.

    3.Rối loạn chức năng phổi

    Ngoài các thách thức về đường thở và hô hấp có thể phát sinh như bệnh nhân chìm dần vào mức hôn mê gan sâu hơn, những biến chứng ban đầu ở phổi có thể phát triển, có thể làm tổn thương sự oxy hóa. Bệnh cảnh hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) không phải là ít gặp, đặc biệt là nếu hiện diện nhiễm khuẩn, và suy thận có thể dẫn đến phù phổi. Viêm phổi, thường do hít sặc, thường gặp ở những bệnh nhân bị suy gan tối cấp (FHF) và có thể ảnh hưởng thêm đến chức năng phổi.

    4.Rối loạn huyết động

    Như đã đề cập trước đó, hạ huyết áp toàn thân thường gặp và liên quan với nhịp tim nhanh và tăng cung lượng tim, điều được gọi là “tăng động tuần hoàn”. Theo dõi xâm lấn, thường bao gồm một ống thông động mạch phổi, thường cần thiết để vượt qua biến chứng này; giảm hiệu suất của tim có thể làm trầm trọng thêm chức năng phổi và bệnh nhân kết thúc với việc dùng thuốc làm tăng huyết áp tối đa và phân suất oxy trong khí hít vào (FIO2) tối đa khi suy gan tối cấp (FHF) tiến triển.

    B.Các biện pháp điều trị đặc hiệu theo nguyên nhân

    1.Viêm gan do virus

    Không có điều trị đặc hiệu nào đối với suy gan do virus viêm gan A. Trong trường hợp viêm gan B, việc sử dụng lamivudine hoặc các chất tương tự nucleoside/nucleotide mạnh khác không cho thấy một cách thuyết phục về sự cải thiện tiên lượng. Trong tình huống ở đó một đợt bùng phát viêm gan B mạn tính đã thúc đẩy suy gan, có thể sử dụng thuốc kháng virus đường uống, có lẽ không phải cho tác dụng ngay lập tức nhưng làm giảm tải lượng virus và làm giảm nguy cơ viêm gan B tái phát sau ghép gan. Bội nhiễm virus delta ức chế HBV DNA.

    2.Nhiễm độc acetaminophen

    N-acetylcysteine (NAC), được dùng đường uống hoặc đường tĩnh mạch, là chất giải độc đặc hiệu đối với suy gan liên quan đến acetaminophen. NAC nên được sử dụng theo thuật toán hiện có rộng rãi ngay khi chẩn đoán nghi ngờ, và nhiều cơ quan có thẩm quyền khuyến cáo tiếp tục sử dụng chất này vượt xa 16 giờ, thường đến khi chỉ số INR đã đạt đến mức bình thường. Mặc dù chứng cứ tốt nhất hỗ trợ việc sử dụng NAC trong 24 giờ đầu tiên sau khi uống acetaminophen, ít có hại khi bắt đầu dùng nó vượt quá cửa sổ trên.

    3.Suy gan tối cấp liên quan đến việc mang thai

    Sinh sớm được khuyến cáo trong hầu hết các trường hợp suy gan tối cấp có liên quan đến việc mang thai (gan nhiễm mỡ cấp tính trong thời kỳ mang thai, hội chứng HELLP , viêm gan E cấp tính), không những đối với sự an toàn của thai nhi mà còn là điều trị cho bản thân quá trình bệnh. Do đó ghép gan hiếm khi cần đến đối với chỉ định này.

    4.Các nguyên nhân khác

    NAC cũng thường được sử dụng trong suy gan tối cấp (FHF) với nguyên nhân không phải acetaminophen, vì vậy nó tương đối không gây độc và cũng có thể cải thiện kết quả trong những tình trạng đó. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng gần đây đã chứng minh sự cải thiện về tỷ lệ sống còn không ghép gan ở những bệnh nhân bị bệnh não giai đoạn I và II, mặc dù không có lợi ích sống còn nào trong nhóm tổng thể.

    Không có điều trị đặc hiệu nào đối với bệnh Wilson có biểu hiện tối cấp, mặc dù có những báo cáo trường hợp cho thấy lợi ích có thể có của liệu pháp gạn tách huyết tương và chelat hóa. Những phương thức điều trị này có thể đóng vai trò như một cầu nối cho việc ghép gan sớm, hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến lịch sử tự nhiên của bệnh.

    IV.Tiên lượng và ghép gan

    Một số mô hình đã được phát triển để hỗ trợ trong việc xác định tiên lượng ở bệnh nhân bị suy gan tối cấp (FHF) . Các tiêu chuẩn tiên lượng được sử dụng rộng rãi nhất là tiêu chuẩn của Bệnh viện Đại học King, kết hợp nguyên nhân gây suy gan tối cấp với nhiều yếu tố chỉ điểm sinh hóa. Các bệnh nhân là những người đáp ứng tiêu chuẩn rất khó có khả năng sống sót nếu không được ghép gan khẩn cấp. Các mô hình đã được sử dụng rộng rãi khác bao gồm tiêu chuẩn Clichy, dựa trên việc đánh giá nồng độ yếu tố V. Ngoài ra, lactat huyết thanh đã được chứng minh là một yếu tố dự báo độc lập về kết cuộc xấu của suy gan do acetaminophen, và MELD (Mô hình bệnh gan giai đoạn cuối) có thể có giá trị nào đó, mặc dù không phải hiện đang được sử dụng trong việc phân bổ ghép tạng ở bệnh nhân bị suy gan tối cấp.

    Nguồn: drthuthuy.com
     
    kìm bấm cos | súng gõ rỉ

Chia sẻ trang này

loading...